Hòn non bộ Ngũ Hành Sơn

Tôi biết Ngũ Hành Sơn lần đầu qua bài thơ Đôi mắt sáng nhìn lên. Bài thơ quá đỗi hào hùng, không nhớ tên tác giả. Anh em tham gia phong trào đấu tranh của học sinh, sinh  viên chuyển tay nhau, thuộc lòng và ngân vang trong các đêm văn nghệ hồi năm 1974. Mãi đến hè 1997, tôi mới được gặp Ngũ Hành Sơn.

Hồi xưa, vùng này có tên là Non Nước (trên non dưới nước), cách TP. Đà Nẵng hơn 7km. Đầu thế kỉ 19, dựa theo phương vị 5 ngọn núi: Kim-Mộc-Thủy-Hỏa-Thổ (thực ra có 6 ngọn vì Hỏa Sơn là núi kép có hai ngọn Âm và Dương) và thuyết âm dương ngũ hành, vua Minh Mạng đã đặt tên những ngọn núi này là Ngũ Hành Sơn. Theo Kinh Dịch thì ngũ hành cấu thành vũ trụ, tương sinh, tương khắc và vân động không ngừng.

Ngũ Hành Sơn

Nhìn từ máy bay, Ngũ Hành Sơn giống như mâm ngũ quả hoặc 5 ngón tay hay hòn non bộ, tùy theo cảm nhận của từng người. Tôi thích hình ảnh hòn non bộ, bởi giữa đồng bằng ven biển, tự dưng có mấy ngọn núi đội đất mọc lên, lại có đủ hoa thơm cỏ lạ, cây cối tươi tốt, chim muông rải rác, hang động ngóc ngách và những dòng suối uốn lượn quẩn quanh. Ngũ Hành Sơn là núi đá vôi và cẩm thạch, có nhiều hang động nhỏ. Đá cẩm thạch ở Ngũ Hành Sơn, mỗi ngọn một màu riêng, tương ứng với ngũ sắc. Thủy Sơn có màu hồng, Hỏa Sơn màu đỏ, Thổ Sơn màu nâu, Kim Sơn màu xám. Người Pháp gọi Ngũ Hành Sơn là những ngọn núi cẩm thạch.

Ngũ Hành Sơn có rất nhiều loại cây quý như thiên tuế, thach trường sanh, cung nhân thảo, lài trắng, cảnh thiên, mộc tê, chương não, thần tài núi, sứ trắng… Các loại phong lan, hoa đá, hoa dại cũng khá phong phú. Thú thì có các loại dơi, chim, chồn, sóc, các loại bò sát và trước đây cũng có rất nhiều khỉ.

Anh cả của Ngũ Hành Sơn là Thủy Sơn, cao chừng 120m, hướng đông bắc, có 3 đỉnh giống Tam Thai của chòm sao Đại Hùng (sao Cày) nên còn gọi là núi Tam Thai. Trung Thai có các chùa Tam Thai, Tam Tôn, Từ Tâm, khu Hành Cung, đài Ngắm Sông (Vọng Giang đài); các động Huyền Không, Hoa Nghiêm, Linh Nham… Thượng Thai có Cổng Trời (Vân Căn Nguyệt Quật), hang Lên Trời (Vân Thông), hang Rồng (Thiên Long), động Thiên Phước Địa… Hạ Thai có chùa Linh Ứng, đài Ngắm Biển (Vọng Hải đài), các động Tàng Chơn, Ngũ Cốc, Bồ Đề, Âm Phủ… Thủy Sơn là điểm thăm quan được nhiều người chọn lựa nhất. Nếu đi cổng số 2, phía đông lên chùa Linh Ứng thì có 108 bậc thang. Đến hết các bậc cấp, gặp ngay tượng Phật ngồi dưới gốc Bồ Đề bên vách núi và tháp Xá Lợi 7 tầng cao 30m. Lên cổng số 1, phía tây có 156 bậc, đường dốc ngược sẽ đến chùa Tam Thai. Theo kinh nghiệm bản thân thì lên cổng 2, xuống cổng 1 đỡ mệt hơn.

Hướng đông nam có ngọn Mộc Sơn, sườn dựng đứng, cây cối lưa thưa. Kim Sơn hướng tây, tựa quả chuông úp sấp, giữa hai ngọn Hỏa Sơn và Thổ Sơn, bên cạnh dòng Trường Giang (Cổ Cò), có chùa và động cùng tên là động Quan Âm. Hỏa Sơn là ngọn núi kép phía tây nam, dưới chân núi có tảng đá khắc chữ “Phổ Đà Sơn Quan Âm Điện”. Tại đây, xưa có bến sông tấp nập và khu miếu Ông Chài sầm uất. Chung quanh ngọn núi này có chùa Linh Sơn, động Huyền Vi, chùa và hang Phổ Đà Sơn. Thổ Sơn ở phía tây bắc, còn gọi là núi Đá Chồng, thấp và dài nhất, nom tựa con rồng xoải mình trên bãi cát. Dưới chân núi có các chùa Long Hoa, Huệ Quang, Hương Sơn, Giác Hoàng Viên.

Các hang động ở Ngũ Hành Sơn

Các hang động ở Ngũ Hành Sơn, đa phần là hang hở với những ngóc ngách để gió và ánh sáng nghịch ngợm đan xen, không hoành tráng bề thế, cứ nho nhỏ xinh xinh mà độc đáo. Đến Ngũ Hành Sơn, tôi chỉ đi đường bộ. Chẳng hiểu ai là tác giả của thang máy vô duyên, phá hỏng cảnh quan nhà Phật. Nào phải khó khăn gì cho cam, chỉ hơn trăm bậc thang mà leo không nổi thì nên ở nhà. Đến Ngũ Hành Sơn, tôi thường ghé động Âm Phủ để luôn tự răn mình. Tôi thích cảm giác qua cầu Âm Dương trên dòng Nại Hà, chia sông thành bên sinh, bên tử; lò mò vào Âm Cung với ông Thiện, ông Ác; với Địa Tạng Vương Bồ Tát, các vị phán quan và nhiều tượng khắc minh họa. Nào suối Giải Oan, Thiên Thai giới, Phán Quan điện, Minh Vương điện, cân Thiên Lý, Giám Kính đài, với sự tích Mục Kiền Liên cứu mẹ, nghe trong tiềm thức lời nhắc nhở bao dung “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu” (Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó thoát). Động có lối lên Thiên Thai giới tràn ngập gió và ánh sáng với trời đất bao la, cảnh đẹp hơn tranh vẽ.

Động Huyền Không thì ngược lại, lộ thiên, vòm tròn, nền phẳng với 5 lỗ thông ra trời nên lúc nào cũng có gió nhè nhẹ và ánh sáng tự nhiên lung linh huyền ảo, không cần đèn chiếu sáng. Trong động có tượng Phật Thích Cado nghệ nhân Nguyễn Chất của làng đá mỹ nghệ Non Nước tạc vào năm 1960. Bên trái có đền bà chúa Tiên, nơi cầu tài lộc và đền bà Chúa Thượng Ngàn, nơi cầu an vui gia quyến. Bên phải có Trang Nghiêm Tự gồm 3 gian thờ Phật Quan Âm, 3 vị thánh và ông Tơ bà Nguyệt, nơi cầu duyên. Động có Mẫu Nhũ (Vú Mẹ) và Trống Chiêng bằng thạch nhũ, gõ kêu như thật.

Trong chiến tranh, động Huyền Không có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Quân Mỹ từng sử dụng làm nơi huấn luyện biệt kích. Huyền Không từng ghi dấu chiến tích oai hùng của quân giải phóng mà tiêu biểu là anh hùng Phan Hiệp, còn gọi là Phan Hành Sơn. Tôi cũng thích leo lên đỉnh Trời rồi ra Vọng Hải đài, thỏa thuê ngắm đất trời Đà Nẵng, no nê hít thở tràn lồng ngực gió biển Non Nước hào phóng. Trên Vọng Giang đài có khối đá hệt chiếc ngai, nơi vua Minh Mạng từng ngồi ngoạn cảnh và đặt tên cho từng ngọn núi. Từ vị trí đắc địa này, máy ảnh ống kính rộng có thể chụp bao quát cả 5 ngọn của Ngũ Hành Sơn.

Mấy chàng trai còn đảm bảo với người yêu là có thể chụp thấy không chỉ 5 mà cả 7 ngọn núi!

Làng đá mỹ nghệ

Dưới chân Ngũ Hành Sơn là làng đá mỹ nghệ Non Nước. Đây là làng điêu khắc đá lớn nhất nước với những vườn tượng trải dài, như một khu phố độc đáo, tĩnh lặng mà nhộn nhịp bởi cư dân là những tượng đá sắc sảo và sống động, tấp nập khách thăm quan mua sắm. Theo các nghệ nhân trưởng lão, làng đá được hình thành vào cuối thế kỉ 18 do tổ sư Huỳnh Bá Quát, người Thanh Hóa vào lập nghiệp, làm nghề. Hiện làng có hơn 400 hộ sản xuất dưới nhiều dạng như công ty, xưởng, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp tư nhân… với hơn 3000 lao động, doanh thu mỗi năm đạt hàng trăm tỉ đồng. Từ nguồn nguyên liệu tại chỗ, ban đầu làng đá chỉ làm những sản phẩm giản đơn phục vụ cuộc sông như cối, chày, bia mộ, bình hoa… Dần dần, kinh tế phát triển, nhu cầu ngày càng tăng cao, làng đá được mở rộng, từ quy mô sản xuất đến đa dạng sản phẩm. Ban đầu chỉ làm thủ công, lên bán thủ công và công nghiệp. Độ tinh xảo và mẫu mã sản phẩm không ngừng được cải tiến. Có sản phẩm bé tẹo như viên chuỗi vòng đeo đến những tượng người và vật nặng hàng tấn. Chỉ cần hợp đồng cụ thể, là sản phẩm đá Non Nước chu du khắp thế giới, cạnh tranh sòng phẳng với sản phẩm cùng loại các nước. Nếu khách thích tạc mình thành tượng, cứ chịu khó làm mẫu hoặc đưa hình, các nghệ nhân sẽ đáp ứng nhu cầu, thổi hồn vào đá, biến những khối đá vô tri thành những hình nhân sống động

Từ lâu, để bảo vệ danh thắng quốc gia, Đà Nẵng đã cấm khai thác đá tại Ngũ Hành Sơn. Không để ngành nghề mai một, những người dân Đà Nẵng chịu thương, chịu khó lại tất tả đi khắp nước tìm nguyên liệu phù hợp để nuôi và giữ nghề. Đá trắng và đá tự nhiên từ Nghệ An, Thanh Hóa; sa thạch ở Quảng Nam bên cạnh, cẩm thạch đen ở Ninh Bình; các loại đá vân gỗ, đỏ hoa, hường, firo ở Hà Tây… Những doanh nghiệp lớn còn mua đá mã não, cẩm thạch của Pakistan, Iran, Myanmar… để sản xuất hàng cao cấp. Các gia đình còn đầu tư cho con em học điêu khắc, mỹ thuật công nghiệp cả trong và ngoài nước, mời các chuyên gia hợp tác và hỗ trợ. Mấy năm trở lại đây, làng điêu khắc đá có thêm nghề đúc đá. Đá chỉ có thể đẽo chứ làm sao đúc? Với bàn tay khéo léo và bộ óc sáng tạo, nhờ các hóa chất hiện đại, các sản phẩm được đúc từ bột đá tinh xảo đến không ngờ, khách thường khó phân biệt.

Update: 08/04/2013
Visited: 0
Top
Thông tin cá nhân:
Thông tin tài khoản:
Mã kiểm tra
Mã kiểm tra:
Nhập mã kiểm tra: